Giải Trí - Lịch sử Áo Dài Việt Nam từ xưa đến nay - Công Ty TNHH Dịch Vụ Du Lịch Tín Việt
Công Ty TNHH Dịch Vụ Du Lịch
Tín Việt
Hotline: 0937 47 79 76 - 0901 238 258
TƯ VẤN TOUR TRONG NƯỚC
Lệ Hằng 0931 211 299
H. Long 0901 238 258
TƯ VẤN TOUR NƯỚC NGOÀI
Thuỷ Anh 0933 052 979
Trung Tín 0937 477 976
VISA, passport, VÉ MBAY
Th. Dương 0901 253 279
Thủy Anh 0967 261 274
Giải trí > Lịch sử Áo Dài Việt Nam từ xưa đến nay
Lịch sử Áo Dài Việt Nam từ xưa đến nay

ÁO DÀI VIỆT NAM


Thời trang đồ bộ thời trang


Đối với người phụ nữ Việt Nam ngày nay Áo dài thời trang áo dài đẹp áo dài đã Hiện diện ở mọi lúc mọi nơi để biểu trưng nét văn hóa truyền thống ăn mặc của dân tộc.


Đặc biệt là trong những ngày lễ Tết người phụ nữ mặc áo dài đi lễ chùa lễ nhà thờ, đi chúc tết, đi du ngoạn thật là lịch sự, duyên dáng,  làm nổi bật những đường nét thẩm mỹ, thanh tú, dịu dàng mà cũng rất kiêu sa.


không một loại trang phục nào trên thế giới hội tụ được những đường nét đan thanh, kiều diễm mà lại bộc lộ được hết sự hấp dẫn của thể vóc của người phụ nữ Việt Nam. vừa kín đáo Gửi nhìn như chiếc áo dài của người phụ nữ Việt Nam xưa cũng như  nay.

Có phải em mang trong áo bay

Hai phần gió thổi một phần mây

Hay là em gọi mây trong áo

Rồi thở cho làn mây trắng bay

Từ thế kỷ 19, chiếc áo dài Việt Nam đã là sự kiện chú tâm nghiên cứu của một số nhà văn hóa Pháp. Trong hai thập niên 50 và 60 của thế kỉ XX, chiếc áo dài Việt Nam đã xuất hiện phấp phới bay trước mắt công chúng tại nhiều quốc gia tân tiến trên thế giới, gây được sự chú ý, cùng thu phục cảm tình của nhân dân các nước.

Ai ai cũng cảm nhận đó là một kiểu trang phục đặc biệt biểu trưng được tất cả những nét đan thanh, kín đáo, kiều diễm và tâm hồn phóng khoáng của dân tộc Việt. tất cả là những nét đẹp duyên dáng, đặc sắc của người phụ nữ đoan trang thùy mị.

Chiếc áo dài cho dầu có màu sắc như thế nào, kiểu cách ra sau hoặc là được hết tạo bằng những hình thức nào, Được mặc trong những thời điểm nào, đối với bất cứ người phụ nữ có vóc dáng ra sao, cũng gây được thích thú. Vì hơn bất cứ loại áo nào, áo dài Việt Nam hội tụ gần được hết những nét đẹp trên cơ thể thanh thoát, và dáng dấp nhỏ nhắn của người phụ nữ Việt Nam hiền diệu và diễm lệ.

Với chiếc áo dài, người phụ nữ dù có tướng đi cứng rắn, mạnh bạo, cũng có thể trở thành  thướt tha, yểu điệu hơn, mềm mại hơn. Tuy vậy nó cũng có khả năng giúp cho một người phụ nữ bộc lộ được hết những nét nảy nở, đầy sinh lực, một cách vừa kín đáo vừa khéo léo, không phản lại những nét thẩm mỹ diễm lệ.

Lược Sử chiếc áo dài Việt Nam.

Chiếc áo dài theo thời gian, được thay đổi nhiều lần qua nhiều hình thức khác nhau trong các thời đại với những ý muốn khác biệt của nhiều thế hệ. Áo dài phụ nữ ngày nay là kết quả hình thành phối hợp chiếc Áo Bà Ba của người Nam Bộ với chiếc áo dài của người chiêm thành xưa.

Vào năm 1821 đến năm 1822 đầu đời vua Minh Mạng, có một ký giả người Pháp viếng thăm miền Trung Nam Bộ, sau khi trở về nước Pháp ông ta mô tả vẻ lại kiểu áo dài này để giới thiệu với độc giả trên tờ báo của ông, đó là loại áo dài cổ điển.

Loại áo này của người đàn ông thường có tài cao tới trên đầu gối và hò được đắp qua phía dưới của vai mặt, khuy cài vào nút đồng hay thau và của người phụ nữ vào loại tứ thân, tức là 4 miếng vải ráp lại, chỗ lắp ở phía sau sống lưng, phía trước vạt hò, theo kiểu miền Trung và miền Nam, thấy kiểu xẻ đôi ở trước ngực (tà áo trước có thể thắt cột lại ở ngang bụng khi làm việc cho dễ dàng) như ở miền Bắc.

Những chuyển biến thay đổi của chiếc áo dài.

Sau Đệ Nhất Thế Chiến, đàn ông Việt Nam bắt đầu thay đổi trang phục theo Tây Phương áo dài đàn ông dần dần ít dùng hơn và cho tới nay chỉ còn được dùng trong các lễ quan trọng, với tính cách là quốc phục. Kể từ đó về phía phụ nữ, chiếc áo dài theo đã tiến triển, được coi là dành riêng cho phụ nữ, đã cải biến rồi,.... cách tân không ngừng.

Trước hết, áo dài được cách tân mau lẹ ở miền Bắc là từ những năm 1935 đến 1936 và nhất là từ năm 1937, thi họa sĩ Cát Tường tung ra phong trào ăn mặc tân thời. Chiếc áo dài với vẻ đẹp kín đáo ngày trước dần dần Biến cải với vẻ đẹp thể vóc lộ liễu hơn một chút. Ở trong Nam, vào năm 1935,  kiểu áo dài cải cách thấy xuất hiện ở ngoài đường phố và trên mặt báo chương.

Tại hội chợ Sài Gòn cũng vào năm 1935, Cô Hồng Vân đã tung ra một kiểu áo Tân Kỳ, Đã bị các bậc phụ nữ trung niên  đả kích mạnh. Tới năm 1938 - 1939 kiểu áo dài phụ nữ thông dụng ở miền Nam có tà cao tới khoảng đầu gối, bâu cổ mỏng và nhỏ, gài kín lại và tay ráp ở phía trên của cùi chỏ. Khoảng đầu thập niên 1950, chiếc áo dài phụ nữ có tà dài hơn,  xuống tới phía  mắt cá và người phụ nữ mặc với quần ống rộng. Lúc bấy giờ, quần gài nút và quần yếm cũng được giới phụ nữ miền Nam mặc nhiều. Cách phục  sức này vẫn còn kín đáo vì áo lót bên trong thường là áo trắng và dày.

Từ năm 1952 đến năm 1954, giới phụ nữ  phục sức lộ liểu hơn, Tuy rằng kiểu may áo dài không thay đổi nhiều. Chất liệu may áo dài có phần mỏng hơn, diệu hơn, và một số phụ nữ trẻ đã may áo bó sát người để trình bày những nét gợi cảm của vóc dáng mình chứ không rộng nữa.

Áo đã cải bỏ khuya vậy trên vạt hò để dùng khuy nút bấm với tác dụng mặt hai cởi bỏ được mau lẹ hơn. Người ta may kiểu tay liền và đã dẹp bỏ kiểu tay ráp phùng ở vai. (loại tay ráp phùng ở vai này thịnh thành vào thập niên 1940 loại vải dùng để may thường là loại sa ten trắng hay đen kiểu này vạt hò ở trên vai phải.).

Cùng mặc với áo tay liền vừa kể, giới phụ nữ trẻ có khuynh hướng mặc áo lót ngực dày và kín để thay thế xu chiêng. Có tác dụng nâng cao ngực lên theo thẩm mỹ Tây Phương. Một số phụ nữ khác dùng loại xu chiêng không dây choàng máng lên vai để phơi bày vẻ đẹp tròn đủ của vùng lưng, đôi vai và bộ ngực.

Từ năm 1954 đến 1956, các  kiểu áo dài phụ nữ không thay đổi thêm nhiều về kiểu may nhưng có hiện tượng đáng chú ý về màu sắc. Lúc bấy giờ có phong trào mặc comple, áo quần cùng một màu, cùng một thứ hàng vải. Màu trắng màu thông dụng của nữ sinh, màu đen, rồi phong trào mặc áo đỏ chói, màu xanh đậm với quần đen hay trắng.

Cũng trong khoảng thời gian này có một số phụ nữ sang trọng, phú quý mặc áo dài cặp, giống như loại áo cưới, gồm có áo màu, giày ở bên trong và lớp áo the thật mỏng hay lưới, có hoa đắt tiền ở bên ngoài( hoa thêu hay hoa vải đính vào). Lại có vài kiểu cách biến thể ở tay ( rộng xòe), của trồng đầu ,Hay hở ngực hoặc xẻ tới bộ nhũ hoa và cài nút thắt như người Hoa hay người vùng thượng du Bắc Bộ.

Năm 1960, cô Hồng Thắm ở Sài Gòn có gương mặt phúc hậu  và bộ ngực căng tròn, khi đi làm phù dâu cho một người bạn đã sáng chế mặc một chiếc áo dài thanh đạm nhưng cũng theo kiểu sơ mi đàn ông, cổ đứng và ve cánh én dài, trông rất thanh thoát mà sung mãn khiến mọi người trong đám cưới phải tán thưởng.

Từ năm 1958, áo dài Phụ nữ Việt Nam, bước qua một cuộc đổi mới và từ đó cải biến không ngừng. Vào năm đó bà Trần Lệ Xuân tung ra một kiểu áo mới Bà thường mặc Là áo không bâu cổ, để hở cổ và vai cùng vạt hò được đắp qua bờ vai phải. Trong những cuộc tiếp tân, lễ lạt, bà còn choàng bên ngoài một khăn choàng mỏng và thật dài. Chiếc áo này có tác dụng giúp cho người phụ nữ giảm bớt phần nực nội ở vai cổ, đồng thời còn trình bày được nét đẹp trắng nõn nà và tròn đầy của bờ vai và vùng ngực.

Tiếp theo đó,  chiếc áo  dài phụ nữ có những cải biến như sau.

  1. Hở cổ: (kiểu bà Xuân) tà dài, tay ráp ở cùi chỏ hay vai,Có người còn mặc quần dài phủ gót chân và đi giày cao gót. Cổ áo có những loại cải biến thêm:
  1. Cổ hở rộng một phần vai hay Nguyên vai.
  2. Cổ hở 1 phần ngực hay nguyên phía trên vùng ngực từ vai xuống trọn ức (Dành cho phụ nữ có ngực nở) hình giống như chữ nhật, có vạt hò hay không (tròng cổ).
  3. Cổ hở, hở một ít phần ức và lưng, hoặc hở nhiều ở phần lưng (Một số ca Nghệ sĩ trình diễn thích mặc loại áo này).
  4. Cổ không bâu nhưng có đường xẻ dài tới buồng ngực phía trước, kết nút vài hoa hay xẻ dài  ở phía sau lưng tất cả loại áo dài tròng đầu.
  5. Cổ áo hở rộng kiểu trái tim và cổ tròn không bâu.
  6. Ngược lại kiểu áo hở cổ, một loại áo cổ cao được sử dụng của bằng vải keo hay kiếng plastic trong suốt, xuất hiện từ năm 1956 có lúc cổ cao tới 8 hoặc 9 phân hoặc là một tất khiến cho người phụ nữ như có cổ và mặt dài thêm ra đây là loại áo dài cổ bít.
  7. Một kiểu áo dài có cổ biến chế khác là cổ may theo kiểu cổ đứng cổ áo sơ mi đàn ông, có hai cánh dài và rộng nhọn hoặc là cánh bầu tròn.

2. Tay ráp: Các kiểu áo có tay ráp ở trên cùi chỏ hay ở vai cũng tùy theo đó mà vạt hò được đặt ở nách hay trên vai. Tay có thể cài nút bóp thường hay mở rộng hoặc theo kiểu tay áo sơ mi dài của đàn ông cũng có thể được quyền kiểu hoặc là Thu ngắn lên 2 phần 3 cánh tay.

3. Màu sắc và hoa áo: Thay đổi tùy theo khổ người và lứa tuổi. Tuy nhiên trong thời kỳ này người ta thấy xuất hiện phong trào phụ nữ mặc áo dài màu thêu hoa kim tuyến hoặc là hoa văn do họa sĩ vẽ trên ngực hay ở tà. Tiền công họa sĩ vẽ thật đắc có lúc người ta thấy hiện tượng một số phụ nữ trẻ thích mặc áo dài có viền vải khác nhau ở cổ ống tay áo và vạt hò hay ở làn xẻ giữa ngực từ cổ đến bộ nhũ hoa.

Những cải biến về áo dài không ngừng dứt. Thật ra các kiểu áo dài còn nhiều phát hiện mới lạ những năm cuối thập niên 1960 và những năm đầu thập niên 1970 có hiện tượng phụ nữ trẻ chuộng thời trang đã chú trọng loại hàng mỏng và dịu để may mặc.

Loại áo dài hở cổ và vai được cải biến thêm một kiểu dáng mới: có thêm bâu lật cùng màu. Bâu cổ này có thể nằm bao phủ một phần vai hay ở phía dưới cổ. Hai chuổi bâu cổ không thông xuống ngực mà vắt qua vai trái. Kiểu áo này xuất hiện tại Đà lạt, có tác dụng làm trẻ trung người phụ nữ ở miền đất cao nguyên giá lạnh.

Lại thêm một kiểu áo mà cổ có hai dải thông ra ở phía trước ngực, người thiếu nữ có thể thắt lại thành một cái nơ xinh xắn ở dưới cổ. Cái nơ này làm tăng thêm vẻ ngây thơ duyên dáng của những cô gái mới dậy thì.

Khoảng cuối thập niên 1960,  bà Tuyết Mai lại lăng xê một kiểu áo dài tà ngắn gọi là “ mini áo dài” . Loại này có bâu cổ thật nhỏ, hoặc khép kín, hoặc hở bâu, xét ra loại áo này cũng giống như loại áo dài mà giới phụ nữ miền namtre3 thường mặc vào khoảng những năm từ 1935 đến 1939. Có điều khác hơn là loại “ mini áo dài” này có người mặc chật ở eo còn người phụ nữ trong thập niên 1930 mặc rộng ( nữ nghệ sĩ nhân dân Phùng Há hồi ấy có chụp một bức ảnh mặc áo dài như thế, trên ngực có đính nhiều huân chương).

Loại “ mini áo dài” có tác dụng làm trẻ trung, gậy ấn tượng nhanh lẹ cho người phụ nữ. Loại áo này còn điểm khác hơn là không ráp tay ở cánh tay hay ở vai mà có đường ráp ở hai bên vài trái và phải, vắt xéo từ cổ xuống nách. Laoi5 này song song với loại “raglan”, mà người ta có thể thay đổi tà áo hoặc trên tay bằng ngang đầu gối và tay có thể cắt ngăn cao chừng 2 phần 3 cánh tay.

Từ năm 1971, người ta thấy phong trào mặc áo dài cùng lúc với quần tây ống chân voi. Chiếc áo dài theo khiểu này còn được cải biến với hai tay áo may khác màu, hoặc là cùng với một loại hàng lưới có hoa một màu hay nhiều màu. tà áo có thêm nhiều cải biến thẩm mỹ với những loại vải khác màu hay loại hàng lưới kết hoa.

Về ống tay dài, cũng có khi chật, khi hẹp, khi dài, khi ngắn. Nhưng có 1 loại áo, có lẽ cũng xuất hiện từ thời cô Hồng Thắm đã sáng chế ra vào đầu thập niên 1960 là sự liên hợp giữa chiếc áo dài với cái áo sơ mi đàn ông. Theo đó, tay áo dài có cấu trúc theo “ manchette double”, nghĩa là tay áo lật lên, có khuy cài nút rời bằng nahu, hoặc đồng và cũng có thể là bằng vàng 18k hay 24k có đính đá quý hoặc màu. Đây là chiếc áo dài lưỡng tính âm dương chỉ xuất hiện lẻ loi trong một thời gian ngắn trong giới trẻ tinh nghịch.

Từ áo một màu, chiếc áo dài thời trang 1971 là một chiếc áo nhiều màu với hình thức lập thể, một thứ trang trí kiến thức hay một thứ bay bướm theo quan niệm thẩm mĩ bấy giờ. Có thể nói chiếc áo dài đó tân kỳ toàn diện, cho người ta ý niệm rằng nó sẽ được cải biến, cải tiến hơn nữa. Nó dung hợp thêm những nét đặc biệt tây phương bằng cách hở rộng cổ, bày lộ liểu phần ngực hoặc là cắt ngắn tay tận cùi chỏ hoặc trên cao hơn nữa giúp người phụ nữ thêm vẻ khoẻ mạnh và trẻ trung., hoặc là kết thêm nhiều ren hoặc là thya vi ngang bằng thì được cắt xéo hay nhọn như một số kiểu cách cải biến của áo dài do các nhà tạo mẫu thời trang ở các nước Pháp hay Mỹ.

Ngày nay, phối hợp với chiếc áo dài truyền thống Việt Nam với đường nét của chiếc áo Thượng Hải sường xám hoặc là với chiếc áo Đầm phương tây. Dầu là gì, kiểu cách nào chăng nữa, cách tân hay biến tấu ra sao, chiếc áo đài Việt Nam vẫn giữ vững được tính chất đặc thù riêng biệt của nó: Áo dài không thể sản xuất đại trà theo kiểu cắt từng xấp vải dày, may sẵn hàng loạt như lối công nghiệp mà phải đo, cắt, may theo từng khuôn khổ người. Nhờ đó, nó giữ được vẻ nghệ thuật, mỹ thuật riêng và nâng cao trình độ thủ công trong thời trang phục sức. Người nước ngoài rất ưa chuộng có được một chiếc áo dài Việt Nam. Họ sẽ thích thú hơn khi phải cắt may theo khuôn thân của chính họ. Như thế, họ phải tìm hiểu, nghiên cứu xin được tư vấn trước chớ không thể mua một cái có sẵn ở ngoài chợ, trong siêu thị như những thứ áo quần bên xứ họ.

Họ sẽ cảm thấy thú vị hơn khi mặc một chiếc áo dài Việt Nam của chính họ và riêng cho họ chớ không thể cho ai khác mặc được.

----------------------------------------------



Trung Tín (_ISTOK Văn hoá lễ tục ABC)